Thứ năm, 09 Tháng 4 2020
TIN MỚI

Tác động của biến đổi khí hậu và hành động của ngành Ngân hàng

Tac dong cua bien doi khi hau va hanh dong cua nganh Ngan hang 1Ngày nay, biến đổi khi hậu đã trở thành một chủ đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia, Chính phủ trên thế giới bởi sự ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế toàn cầu và cuộc sống con người.

Thiên tai, hạn hán kéo dài có thể phá hủy cơ sở hạ tầng, cuộc sống của người dân và kéo theo tình trạng di cư hàng loạt. Nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) năm 2019 đã phân tích một số nội dung liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu và vai trò của hệ thống tài chính - ngân hàng.

Đo lường, đánh giá chi phí kinh tế của biến đổi khí hậu

Theo đó, việc đo lường, đánh giá chi phí kinh tế của biến đổi khí hậu là một công việc vẫn đang và sẽ tiếp tục phải thực hiện. Chúng ta có thể đánh giá chi phí tức thời của việc thay đổi mô hình thời tiết và thiên tai xảy ra thường xuyên và khắc nghiệt hơn, nhưng hầu hết các chi phí ẩn nằm ngoài khả năng phân tích kinh tế hiện nay. Hàm ý ở đây là, mức độ thiệt hại của biến đổi khí hậu đối với các thế hệ sắp tới sẽ phụ thuộc vào các lựa chọn chính sách hôm nay của chúng ta.

Các nhà hoạch định chính sách và các nhà đầu tư ngày càng nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực tài chính. Nghiên cứu của IMF năm 2019 cho thấy biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hệ thống tài chính thông qua 02 kênh chính, đó là: (1) Rủi ro vật chất (Physical Risk) - bắt nguồn từ những thiệt hại về tài sản, cơ sở hạ tầng và đất đai; và (2) Rủi ro chuyển đổi (Transition Risk) - là kết quả của những thay đổi trong chính sách khí hậu, công nghệ, tâm lý thị trường và người tiêu dùng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp (lower-carbon economy) nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và giảm phát thải khí nhà kính cũng như nâng cao khả năng tương thích với các tác động của biến đổi khí hậu. Trong đó, rủi ro có thể thay đổi từ nước này sang nước khác, các nền kinh tế có thu nhập thấp và trung bình dễ chịu tác động bởi rủi ro vật chất hơn các quốc gia khác.

Tac dong cua bien doi khi hau va hanh dong cua nganh Ngan hangHình - Rủi ro vật chất và Rủi ro chuyển đổi từ biến đổi khí hậu

Nguồn: IMF (2019)

Theo IMF, đối với các tổ chức tài chính, rủi ro vật chất có thể là ảnh hưởng trực tiếp khi doanh nghiệp và cá nhân gặp phải cú sốc về biến đổi khí hậu hoặc tác động gián tiếp thông qua những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với cả nền kinh tế và sự biến động của các hệ thống tài chính. Các ảnh hưởng đối với tổ chức tài chính có thể thể hiện qua mức độ rủi ro đối với danh mục cho vay tăng lên hoặc việc tài sản bị định giá thấp đi. Ví dụ, mực nước biển dâng cao và tần suất các sự cố thời tiết xảy ra nhiều hơn sẽ gây thiệt hại hoặc làm giảm giá trị của bất động sản thế chấp. Danh mục đầu tư tín dụng doanh nghiệp cũng có nguy cơ đối mặt với rủi ro cao hơn, có thể minh họa bằng sự phá sản của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ quy mô lớn của Mỹ là California Pacific Gas and Electric bởi thay đổi khí hậu đã gây ra đợt hạn hán kéo dài tại vùng California và gây ra cháy tại California Pacific Gas and Electric; theo Wall Street, đây được gọi là “vụ phá sản đầu tiên do biến đổi khí hậu”. Rõ ràng là hệ thống tài chính phải lựa chọn một chính sách cho vay phù hợp với biến đổi khí hậu bởi nếu gắn thêm các điều kiện cho vay chặt chẽ hơn có thể khiến các ngân hàng giảm cho vay, đặc biệt là khi các cú sốc khí hậu ảnh hưởng không chỉ một mà đồng thời đến nhiều doanh nghiệp và cá nhân.

Ngân hàng Trung ương (NHTW) và các cơ quan quản lý tài chính của nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận tác động của biến đổi khí hậu đối với ổn định tài chính. Ví dụ: Mạng lưới các NHTW và Giám sát viên đối với Hệ thống Tài chính Xanh (NGFS), một nhóm mở rộng hiện có 48 thành viên đã triển khai tích hợp các rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu vào hoạt động thanh tra và giám sát ổn định tài chính. Tại Anh, các cơ quan quản lý đã kết hợp sử dụng các kịch bản biến đổi khí hậu vào các bài kiểm tra sức chịu đựng (Stress Test) khi xây dựng chính sách bảo hiểm.

Biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ khi làm chậm tăng trưởng năng suất (ví dụ, khi sức khỏe và cơ sở hạ tầng bị tác động), làm tăng sự không ổn định của nền kinh tế và làm lạm phát biến động. Vì vậy, các NHTW cần điều hành chính sách tiền tệ phù hợp hơn với những thách thức mới, sửa đổi quy định về hoạt động tái cấp vốn (refinancing) kết hợp với các phân tích về rủi ro khí hậu, bao gồm rủi ro vật chất và rủi ro chuyển đổi. Theo khuyến nghị của NGFS năm 2019, các NHTW cũng có thể quản lý rủi ro trong hoạt động của mình bằng cách ưu tiên các yếu tố bền vững khi quyết định đầu tư.

Đóng góp của ngành tài chính - ngân hàng

Nghiên cứu của IMF (2019) cho thấy giá carbon và các chính sách tài khóa khác có vai trò then chốt trong việc giảm khí thải và huy động các nguồn lực tài chính quốc gia. Mặc dù đã có một số chính sách bảo hiểm và các cơ chế chia sẻ rủi ro (như trái phiếu dự phòng thảm họa để giảm một phần chi phí trong trường hợp xảy ra thảm họa), hệ thống tài chính có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho nền kinh tế bằng việc huy động các nguồn lực cần thiết cho đầu tư vào giảm thiểu biến đổi khí hậu (giảm khí thải nhà kính) và tăng cường khả năng thích ứng (khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu) thông qua các chính sách điều hành về giá, như giá carbon. Nói cách khác, hệ thống tài chính có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong quá trình điều hành giá thị trường để thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp. Theo IMF, chi phí để khắc phục các vấn đề về biến đổi khí hậu dự tính lên tới hàng tỷ Đô la Mỹ, riêng đầu tư cho cơ sở hạ tầng có thể đạt tới 6 nghìn tỷ Đô la Mỹ/năm. Phần lớn các khoản đầu tư đó lại chuyển qua hệ thống tài chính ngân hàng. Từ khía cạnh này, biến đổi khí hậu đối với ngành tài chính - ngân hàng được xem là nguồn cơ hội nhưng đồng thời cũng là nguồn rủi ro.

Bên cạnh đó, phát triển tài chính bền vững và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu bằng các chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ ít sử dụng carbon hơn và tài trợ cho phát triển công nghệ mới cũng là chính sách được IMF khuyến nghị. Theo IMF, số tiền đầu tư bền vững vào trái phiếu xanh tháng 8/2019 đạt 590 tỷ Đô la trong khi con số này vào năm 2015 chỉ là 78 tỷ. Ngoài ra, các ngân hàng cũng có thể điều chỉnh chính sách cho vay của mình phù hợp hơn với biến đổi khí hậu, ví dụ các khoản vay đầu tư vào dự án phát triển bền vững được hưởng nhiều ưu đãi hơn.

Ngành ngân hàng Việt Nam với tăng trưởng xanh

Trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường như biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán, ô nhiễm môi trường…, thì mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam không chỉ là tăng trưởng nhanh, mà phải là tăng trưởng “xanh” và bền vững, hướng tới nền kinh tế xanh (green economy).

Năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 403/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020, theo đó NHNN được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ hoàn thiện thể chế và tăng cường năng lực hoạt động tài chính - tín dụng của các NHTM phục vụ tăng trưởng xanh”. Tiếp đó là Quyết định số 2053/QĐ-TTg năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, trong đó NHNN được giao phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện nhiệm vụ đẩy nhanh tiến độ xây dựng và áp dụng các công cụ tài chính như tín dụng xanh, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh theo đó có bộ tiêu chí về các dự án xanh. Tại Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 8/8/2018 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Thủ tướng Chính phủ đã quy định mộtt trong các giải pháp nâng cao phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tạo cơ sở nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng bằng việc “triển khai hoạt động ngân hàng xanh thông qua việc gia tăng nhận thức và trách nhiệm đối với môi trường và xã hội của ngành Ngân hàng trong kinh doanh… để góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng”.

Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, trong những năm qua, NHNN đã triển khai nhiều chính sách ngân hàng xanh, cụ thể: Năm 2015, NHNN ban hành Chỉ thị số 03/CT-NHNN năm 2015 về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Quyết định số 1552/QĐ-NHNN năm 2015 ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020. Đặc biệt, NHNN cũng đã ban hành Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 15/8/2018 về việc phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam với mục tiêu tổng quát “tăng cường nhận thức và trách nhiệm xã hội của hệ thống ngân hàng đối với việc bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, từng bước xanh hóa hoạt động ngân hàng, hướng dòng vốn tín dụng vào việc tài trợ dự án thân thiện với môi trường, thúc đẩy các ngành sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng xanh, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo, góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững”.

Có thể thấy trong các chính sách về ngân hàng xanh, tín dụng xanh, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, việc thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản phẩm dịch vụ ngân hàng, phát triển mạng lưới thanh toán điện tử, thanh toán qua điện thoại di động, ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường…cũng là chính sách để phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam. Với định hướng đúng đắn đó, NHNN đã chỉ đạo và triển khai nhiều giải pháp đối với các tổ chức tín dụng phát triển sản phẩm, dịch vụ thanh toán mang đến những trải nghiệm mới mẻ về sự tiện ích, hiện đại và an toàn bảo mật trong giao dịch thanh toán, đồng thời làm xanh hóa các hoạt động ngân hàng.

Đến nay đã có trên 78 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai thanh toán qua Internet và 47 tổ chức thanh toán qua điện thoại di động; toàn thị trường hiện có hơn 19 nghìn ATM, gần 290 nghìn POS và hơn 50.000 điểm chấp nhận thanh toán qua QR Code. Nhiều ngân hàng trong nước, thuộc cả khối NHTM Nhà nước và khối ngân hàng cổ phần đã ứng dụng các công nghệ tiên tiến, giải pháp mới vào hoạt động thanh toán nhằm tăng tốc độ thanh toán, tăng cường an toàn, bảo mật dịch vụ, gia tăng trải nghiệm và sự hài lòng của khách hàng như xác thực sinh trắc học (vân tay, khuôn mặt); thanh toán trên nền mã phản hồi nhanh (QR Code); thanh toán an toàn, thuận tiện qua mã hóa thông tin thẻ (Tokenization); thanh toán phi tiếp xúc (contactless payment) tốc độ và tiện lợi; giải pháp chấp nhận thanh toán linh hoạt trên thiết bị di động (mPOS) v.v... Hầu hết các ngân hàng đã và đang xây dựng, triển khai chiến lược phát triển ngân hàng số trên nền tảng công nghệ 4.0; hợp tác với công ty Fintech để ứng dụng công nghệ: phân tích dữ liệu lớn (Big data), Công nghệ chuỗi khối (Blockchain); trí tuệ nhân tạo (AI)… Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua các kênh thanh toán di động, thanh toán qua Internet trong những năm gần đây đều tăng trưởng vượt bậc với mức tăng từ 2 đến 3 con số.

Những nỗ lực trên của hệ thống ngân hàng đã góp phần giảm thiểu những thủ tục giấy tờ truyền thống và góp phần bảo vệ môi trường, giúp tiết kiệm nhiên liệu, loại bỏ lãng phí giấy, giảm chi phí in ấn, giảm phát thải carbon, và quan trọng hơn là thay đổi thói quen của người tiêu dùng chuyển sang sử dụng các kênh thanh toán và dịch vụ ngân hàng xanh. Trong thời gian tới, Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN lần thứ tư sẽ giúp ngành ngân hàng mạnh mẽ hơn, nhanh chóng hơn nữa trong chuyển đổi số, tập trung vào nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại để tiếp tục thiết kế, triển khai các sản phẩm dịch vụ ngân hàng xanh nâng cao trải nghiệm cho khách hàng, tăng cường an ninh bảo mật và bảo vệ thông tin khách hàng và góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Theo SBV

Xem 935 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng