Thứ tư, 30 Tháng 9 2020
TIN MỚI

Tác động của tỷ giá đến sự phục hồi kinh tế của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển

Tac dong cua ty gia den su phuc hoi kinh teNhững tác động của gián đoạn thương mại toàn cầu, sự đổ vỡ của các chuỗi cung ứng lớn, giảm cầu và giá hàng hóa, cùng áp lực dòng vốn ra,… đã khiến cho đồng tiền của nhiều nền kinh tế thi trường mới nổi và đang phát triển (EMDEs) bị giảm giá so với các đồng tiền chủ đạo như USD.

Kết quả nghiên cứu mới đây của các chuyên gia Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) cho thấy những lợi thế trong ngắn hạn mà các nước có được từ một đồng tiền yếu là khá hạn chế.

Giả định về việc tỷ giá yếu giúp hỗ trợ phục hồi kinh tế được dựa trên quan điểm truyền thống là các nhà sản xuất định giá hàng hóa bằng đồng nội tệ của mình. Do vậy, khi đồng nội tệ giảm giá, các sản phẩm và dịch vụ sản xuất trong nước sẽ rẻ hơn cho các đối tác thương mại nước ngoài, từ đó làm tăng cầu và thúc đẩy xuất khẩu. Ngược lại, khi đồng tiền của một quốc gia yếu đi, hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên đắt đỏ hơn, dẫn đến việc người tiêu dùng giảm nhu cầu với sản phẩm nhập ngoại và quay sang ủng hộ hàng hóa sản xuất trong nước. Vì thế, nếu hàng hóa được định giá bằng đồng tiền của nước xuất khẩu, thì một đồng tiền yếu hơn có thể hỗ trợ kinh tế trong nước phục hồi sau một cuộc khủng hoảng.

Tuy nhiên, nhiều bằng chứng đang cho thấy phần lớn các giao dịch thương mại toàn cầu được thực hiện thông qua một vài đồng tiền chủ đạo, đặc biệt là đô la Mỹ. Trên thực tế, lượng giao dịch thương mại bằng USD giữa các nước với nhau đã vượt xa giao dịch thương mại giữa các nước với Hoa Kỳ. Điều này đặc biệt đúng tại nhóm EMDEs, trong bối cảnh các nước này đang có vai trò ngày càng lớn hơn trong nền kinh tế toàn cầu, liên quan nhiều hơn tới hệ thống tiền tệ quốc tế.

Việc sử dụng phổ biến các đồng tiền mạnh như USD để định giá sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp đã làm thay đổi cách dòng chảy thương mại phản ứng lại với diễn biến tỷ giá. Khi giá hàng hóa xuất khẩu được thiết lập bằng USD hoặc euro, thì việc một đồng nội tệ bị giảm giá cũng không làm cho hàng hóa và dịch vụ trở nên rẻ hơn với khách hàng nước ngoài, ít nhất là trong ngắn hạn, do đó tạo ra rất ít động lực để kích cầu. Tại nhóm EMDEs, việc định giá hàng hóa xuất khẩu bằng các đồng tiền mạnh khá phổ biến, những biến động của tỷ giá thường có tác động không đáng kể đến xuất khẩu, và vì thế ít có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn.

Một hàm ý quan trọng khác của việc sử dụng USD trong định giá hàng hóa đó là sự tăng giá của đồng đô la Mỹ trên phạm vi toàn cầu sẽ kéo theo hiệu ứng sụt giảm của hoạt động thương mại. Điều này có nguyên nhân từ việc các đồng tiền giảm giá so với USD khiến cho giá hàng hóa nhập khẩu, gồm cả hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ và các nước khác sẽ tăng cao. Hệ quả là nhu cầu với hàng nhập giảm, dẫn tới giảm thương mại.

Sự phổ biến của USD cũng là một đặc trưng trong tài chính doanh nghiệp tại nhóm EMDEs. Đặc trưng này đồng nghĩa với việc biến động về tỷ giá có thể tạo ra các hiệu ứng thông qua tác động lên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Theo đó, sự giảm giá đồng nội tệ sẽ làm tăng giá trị của nợ phải trả so với các thu nhập của doanh nghiệp, làm yếu bảng cân đối kế toán và gây khó khăn tiếp cận nguồn tài chính mới, khi khả năng trả nợ của doanh nghiệp trở nên xấu đi. Tuy nhiên, hiệu ứng này phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có được thu nhập từ đồng tiền nào - ngoại tệ hay nội tệ.

Các doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng các đồng tiền chủ đạo như USD hay euro để định giá hàng hóa và hoạt động tài chính, thường được “bảo vệ một cách tự nhiên” do các khoản nợ phải trả và các khoản thu nhập sẽ chuyển động tịnh tiến khi có biến động tỷ giá. Điều này có nghĩa là nếu hoạt động tài chính bằng ngoại tệ tập trung vào các công ty xuất khẩu thì các vấn đề sẽ ít lo ngại hơn. Ngược lại, đối với các công ty nhập khẩu, các khoản thu nhập và nợ phải trả thường không tương xứng. Biến động tỷ giá sẽ tác động lên bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp, gây khó khăn cho tình hình tài chính và lượng hàng hóa nhập khẩu. Hơn nữa, việc USD được sử dụng quá phổ biến trong hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng có nghĩa là một sự tăng giá của đồng đô la Mỹ có thể tác động đến bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu của một quốc gia và dẫn đến giảm thương mại toàn cầu.

Như vậy, kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy việc giảm giá các đồng tiền của nhóm EMDEs dường như không tạo ra động lực để thúc đẩy kinh tế của các nước này trong ngắn hạn khi mà hầu hết hoạt động xuất khẩu có phản ứng khá yếu ớt trước biến động tỷ giá, cùng với những gián đoạn vật lý tác động đến hoạt động thương mại dưới cả góc độ cung và cầu. Trong khi đó, các lĩnh vực chủ chốt, như du lịch vốn khá nhạy cảm với tỷ giá dường như cũng có phản ứng không đáng kể do các biện pháp kiềm chế dịch bệnh Covid-19, cũng như những thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng.

Ngoài ra, sự mạnh lên của đồng USD trên phạm vi toàn cầu - có nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tâm lý tìm kiếm tài sản trú ẩn an toàn - đã khuếch đại sự sụt giảm trong ngắn hạn của thương mại toàn cầu và các hoạt động kinh tế, khi giá cả trong nước của các dịch vụ và hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn, cùng với các hiệu ứng từ bảng cân đối kế toán âm đã tác động tới các doanh nghiệp nhập khẩu, làm giảm cầu nhập khẩu giữa các quốc gia với nhau ngoài Hoa Kỳ.

Tỷ giá vẫn đóng một vai trò nhất định trong kiềm chế các áp lực dòng vốn ra cũng như hỗ trợ phục hồi kinh tế trong trung hạn. Tuy nhiên, việc duy trì kinh tế trong ngắn hạn đòi hỏi các nước cần có một sự quyết đoán trong sử dụng các đòn bẩy chính sách khác, như các kích thích tài khóa và tiền tệ, bao gồm cả các công cụ truyền thống và phi truyền thống.

Xem 281 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng